Công nghệ vỏ xe


Dù có kích cỡ khác nhau, cấu tạo vỏ cũng như thiết kế đa dạng, nhưng chung quy lại, vỏ xe được chia thành 3 nhóm: Vỏ không ruột, vỏ có thể sử dụng khi hết hơi và vỏ tự bơm. Chúng ta cùng xem đặc điểm công nghệ cũng như những ưu nhược điểm của từng nhóm này.


Vỏ không ruột có những ưu nhược điểm gì?

Vỏ không ruột là loại vỏ có thể tự giữ không khí bên trong mà không cần tới ruột riêng. Bên trong vỏ được tráng thêm một lớp màng halobutyl hay chlorobutyl để giữ không khí cùng với mối nối giữa vỏ và vành bánh xe ngăn không cho không khí thẩm thấu ra ngoài.

Vỏ không ruột có ưu điểm là an toàn hơn vỏ có ruột. Với vỏ có ruột, khi xe chạy ở tốc độ cao, nhiệt độ của vỏ xe sẽ tăng lên nhanh chóng, qua đó làm tăng áp suất trong ruột nên vỏ truyền thống thường dễ bị tổn thương trong điều kiện này. Và nếu có bất cứ vật gì xuyên quan vỏ khi đó, do nhiệt độ cao, ruột có thể nổ giống như một quả bong bóng. Do ruột chỉ có khả năng giữ hơi, không khí thoát ra ngoài nhanh sẽ tạo ra áp lực lớn khiến cho vỏ có thể bị rách. Tình trạng này có thể làm cho xe mất lái, và ở tốc độ cao nhiều khả năng sẽ gây ra tai nạn chết người.

Vỏ không ruột có khả năng giữ không khí tốt hơn. Trong trường hợp bị một vật đâm xuyên qua vỏ, không khí sẽ chỉ thoát ra qua lỗ thủng ở vỏ vốn đã bị bít bởi chính vật đó. Vì thế, độ an toàn của vỏ không ruột cao hơn. Do vỏ không ruột tự giữ không khí, nó cũng có khả năng tản nhiệt tốt hơn, đặc biệt là khi lắp với vành kim loại. Một vấn đề nữa với ruột là khi bị thủng chúng thường tạo ra các lỗ nhỏ trong khi ở vỏ không ruột có những trường hợp đinh hay vật nhọn đâm xuyên qua trong vài ngày mà vỏ vẫn không bị mất hơi nhiều.

Trung bình, vỏ không ruột nhẹ hơn vỏ có ruột khoảng 500g, và điều này giúp ôtô tiết kiệm nhiên liệu hơn, hay cải thiện cảm giác lái cùng những tính năng động lực. Vỏ không ruột còn có lợi cho những tay lái mạo hiểm khi họ có thể lái dễ dàng trên đường gồ ghề với áp suất vỏ thấp mà không sợ bị dập ruột. Vỏ không ruột cũng có thể hàn nhanh chóng nhờ một hợp chất bịt lỗ thủng. Tuy nhiên, giá thành của nó thường đắt hơn vỏ có ruột.

Vỏ run-flat có thực sự hiệu quả?

Vỏ có thể sử dụng khi hết hơi (run-flat) có nguồn gốc từ năm 1892, khi bằng sáng chế đầu tiên được chính thức công bố. Nhà sản xuất vỏ đầu tiên chế tạo run-flat là Goodyear vào năm 1978. Nhìn chung khi hết hơi, kể cả vỏ run-flat cũng chỉ được phép sử dụng trong một quãng đường nhất định, dù điều này phụ thuộc vào nhà sản xuất. Ví dụ, một số vỏ thiết kế đặc biệt để có thể chạy được 160km, một số vỏ khác lại có thể chạy được 320km. Tuy nhiên, khi “hệ thống” run-flat được phát huy, người điều khiển phải giảm tốc độ xe xuống dưới 90km/giờ.

Có nhiều loại vỏ run-flat. Đầu tiên là loại có thể tự chịu được trọng lượng của ôtô trong trường hợp bị thủng. Thành vỏ loại này thường dầy hơn vỏ thường 50%, được gia cường bằng vài bố chịu nhiệt để có thể giữ cho vỏ ở hình dạng như ban đầu. Vỏ tự chịu được trọng lượng thường có thể sử dụng ở khoảng cách 90km và có trọng lượng nặng hơn từ 15-17% (khoảng 2-3kg) so với vỏ thông thường. Tiếp đến là loại vỏ tự hàn gồm một lớp lót dự phòng phía bên trong có khả năng tự bịt các lỗ hổng và hạn chế không khí thoát ra ngoài. Cuối cùng là loại vỏ phụ trợ với các vòng hỗ trợ bổ xung gắn vào vành để có thể chịu được trọng lượng của xe trong trường hợp vỏ hết hơi. Hệ thống này cho cảm giác vận hành êm ái hơn vì độ cứng của thành vỏ tương đương với vỏ tiêu chuẩn, song đòi hỏi phải có vành và vỏ đặc biệt nên làm tăng chi phí và hạn chế qui mô sử dụng rộng rãi.

Có nhiều quan điểm trái chiều về vỏ run-flat. Một số người cho rằng, nó có ích vì đảm bảo an toàn cho ôtô trong nhiều giờ sau khi vỏ hết hơi, trong khi những người khác lại coi đây là sự lãng phí về thời gian và tiền bạc. Nhược điểm khác của vỏ run-flat là trọng lượng nặng hơn nên nó làm hạn chế tốc độ, tăng mức tiêu thụ nhiên liệu và trong một số trường hợp làm giảm tính năng phanh của ôtô. Điều này là đáng lo ngại song nhờ một số cải tiến công nghệ mới, vỏ run-flat đang dần giải quyết được những nhược điểm đó. Chi phí cao của vỏ run-flat là một nhược điểm khác. Ngoài ra, việc sửa chữa và thay thế khi vỏ gặp trục trặc cũng rất tốn kém. Thông thường, vỏ run-flat được lắp cho những chiếc xe bọc thép chở nguyên thủ quốc gia để đề phòng trường hợp bị tấn công.

Vỏ có thể tự bơm hơi như thế nào?


Vỏ tự bơm (SIT – Self Inflating Tire) là công nghệ do công ty Coda Development của CH Séc thiết kế chế tạo và đã giành được giải “Công nghệ vỏ xe của năm” tại triển lãm “Tire Technology Awards for Innovation and Excellence” năm 2009 ở Hamburg (Đức).

SIT là hệ thống bao gồm một ống ruột gà được gắn với thành vỏ đóng vai trò như một bơm nhu động, bơm không khí vào vỏ xe khi bánh quay trên đường, bất luận xe chuyển động ở tốc độ nào. Ống ruột gà này sẽ bị “thắt nút” ở điểm thấp nhất do tác động biến dạng thông thường của vỏ, dưới áp lực từ trọng lượng xe. Khi vỏ xoay trên đường, điểm thắt nút này cũng “chuyển động” dọc theo ống ruột gà, và đẩy không khí vào trong vỏ xe sau mỗi vòng quay của bánh. Cùng lúc, nút thắt cũng đưa không khí bên ngoài vào trong ống ruột gà từ phía bên kia. Ống ruột gà sẽ liên tục đưa không khí vào vỏ cho tới khi nó đạt áp suất tối ưu.

Sau đó, một van điều tiết sẽ ngừng lấy không khí bên ngoài vào và cho phép không khí bên trong luân chuyển giữa vỏ và ống ruột gà. Một khi áp suất vỏ tụt xuống dưới mức tối ưu, van điều tiết sẽ ngắt chu trình luân chuyển không khí và mở cổ nạp không khí từ bên ngoài để kích hoạt lại quá trình bơm không khí vào vỏ. Và khi đạt tới áp suất tối ưu, van điều tiết lại tự động đóng quá trình bơm không khí vào vỏ. Van điều tiết có thể là van điện tử hoặc van cơ khí.

Ưu điểm của công nghệ này là có thể dễ dàng liên tục duy trì áp suât vỏ ở mức tối ưu, giúp tiết kiệm nhiên liệu, kéo dài tuổi thọ vỏ và hạn chế nguy cơ xảy ra tai nạn. Coda Development tính rằng, ôtô chỉ cần chạy 1,6 km với hệ thống này có thể bơm vào lượng không khí tương đương với số khí bị thất thoát ra ngoài trong nhiều tháng (trung bình khoảng từ 1-3% mỗi tháng). Công ty này cũng cho biết, việc duy trì áp suất vỏ đầy đủ có thể tiết kiệm khoảng 1,24 tỷ gallon nhiên liệu mỗi năm (tính riêng ở Mỹ) và kéo dài tuổi thọ cho khoảng 4,5 triệu chiếc vỏ.

Hoàng Nam

Advertisements

5 thoughts on “Công nghệ vỏ xe

  1. du nói:

    hello teacher
    e là cựu hs của NBK, em định thay vỏ xe kô ruột cho xe, lướt qua nhiều blog thì thấy blog của thầy rất hay, thanks teacher
    nhưng em có thắc mắc là loại xe số nếu sử dụng vỏ khong ruột cho bánh sau thì có làm ảnh hưởng đến các bộ phận khác không (như phuộc, đùm sau,…ect), và độ đàn hồi có tốt không…
    Mong thầy giúp em……

  2. trần việt Thanh nói:

    Chào Thầy. em có một chiếc xe, bánh sau không ruột, bánh trước có ruột. em vẫn bị cán đinh bánh trước, em muốn thay bánh trước thành không ruột được không Thầy?
    ah, tiện thể trả lời bạn Du là không ảnh hưởng nhiều đến xe khi bạn bơm căng và chạy đường trường. chỉ ảnh hưởng đáng kể khi chạy đường gồ ghề, bị xóc mạnh ( đi ruộng) hiihi.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s