Những nữ lưu nổi tiếng đất Nam bộ


Trong cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam, có rất nhiều người phụ nữ làm rạng danh xứ sở được ghi nhận trong lịch sử.

Đất Nam bộ cũng có những phụ nữ tên tuổi cả nước biết đến, điển hình như Thái Hoàng Thái hậu Từ Dụ, Hoàng hậu Nam Phương, Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, Nữ tướng Nguyễn Thị Định… Bài viết này xin được nói về những phụ nữ lừng lẫy đó.

Hai nữ lưu của Gò Công, tỉnh Tiền Giang

Bác Huệ Thái Hoàng Thái hậu Từ Dụ (có sách viết Từ Dũ) sinh tại giồng Sơn Quy, huyện Tân Hòa, nay là thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Bà có tên húy Phạm Thị Hằng, là con quan Lễ Bộ Thượng thư Phạm Đăng Hưng, vợ vua Thiệu Trị. Bà được tuyển vào cung hầu Hiến tổ (Hoàng tử Miên Tông, tức vua Thiệu Trị). Bà sinh được hai công chúa và một hoàng tử : Hồng Nhậm (tức vua Tự Đức). Sử sách đánh giá bà là người hiền thục, đoan trang, nhân từ đối với người dưới quyền, không ganh tị, đố kỵ với ai.

Khi Dực Tôn Anh hoàng đế lên ngôi, Phủ Tôn nhân, đình thần đã nhiều lần xin tấn tôn huy hiệu mỹ tự cho Bà, nhưng bà đã nhiều lần khéo léo từ chối.

Sau nhiều lần được tấn tôn huy hiệu, năm Thành Thái, 1889, bà lại được tấn tôn huy hiệu thêm một lần nữa là “Từ Dụ Bác huệ Khang thọ Thái Hoàng Thái hậu”. Là bà Hoàng tuy sống trong cung nội, nhưng bà vẫn quan tâm tới người dân và cách hành xử của bọn quan lại với dân lành.Bà được nhân dân yêu mến kính trọng.

Thái hậu Từ Dụ (Từ Dũ)

Nói về công đức của Từ Dụ Bác huệ Khang thọ Thái Hoàng Thái hậu, triều đình nhà Nguyễn thời Tự Đức có dâng bài Tụng biểu dương đức tốt của Bà gồm 82 đoạn, mỗi đoạn thường là một bài ngũ ngôn tứ tuyệt. Xin trích một đoạn nói về đức độ của bà như sau:

“Ưa trung trực liêm chính,

Ghét tham ô gian tà,

Lòng nhân thương kẻ khó,

Ghét du đãng xa hoa”. (Đại Nam liệt truyện)

Ngày nay, Bệnh viện phụ sản Sàigòn mang tên “Từ Dũ” là để ghi nhớ công đức của bà.

* Cũng tại đất Gò Công, Tiền Giang còn một Hoàng hậu của vương triều Nguyễn là bà Maria Thérésa Nguyễn Hữu Thị Lan (1914 – 1963), con ông Nguyễn Hữu Hào là người giàu có bậc nhất miền Nam thời bấy giờ. Nguyễn Hữu Thị Lan là người nổi tiếng xinh đẹp, từng ba năm liền đạt giải hoa hậu Đông Dương. Chân dung Hoàng hậu Nam Phương được in trên con tem phát hành tại Việt Nam những năm 50.

Cuộc đời Nam Phương Hoàng hậu có thể nói là buồn nhiều hơn vui. Bà về làm vợ vua Bảo Đại, vị vua thứ 13 của triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Bà được tấn phong Hoàng hậu ngay hôm sau khi về với vua Bảo Đại là một biệt lệ. Vì vua Gia Long đã ra luật «tứ bất lập» mà trong bốn điều ấy có điều: không lập hoàng hậu, nên 12 bà vợ vua Nguyễn trước đây chỉ được phong Vương phi và chỉ khi chết mới được truy phong Hoàng hậu. Hơn nữa, vua còn cam kết để bà được giữ đạo Thiên Chúa, các con khi sinh ra phải được rửa tội theo luật Thiên Chúa giáo và giữ đạo, mà điều này lại là một ngoại lệ không thể chấp nhận được với vương triều Nguyễn. Cuộc hôn nhân này gặp phải rất nhiều sự chống đối, đến nỗi trước Hoàng tộc, vua Bảo Đại đã nói: “Trẫm cưới vợ cho trẫm đâu phải cưới cho cụ Tôn Thất Hân và Triều đình”.

Nam Phương Hoàng hậu 

 

Nhìn chung, lịch sử đánh giá vua Bảo Đại không tốt, nhưng với bà Nam Phương Hoàng hậu thì người đời vẫn tôn kính là “bậc mẫu nghi vì đạo đức, tài giỏi và thương dân, thương nước.” (Lý Nhân Phan Thứ Lang, “Những câu chuyện về cuộc đời Nam Phương”)

Nam Phương là một bà Hoàng được đào tạo theo hệ thống giáo dục Âu Tây nên trong thời gian bên cạnh vua Bảo Đại, Hoàng hậu Nam Phương đã tham gia rất nhiều hoạt động xã hội, như: tiếp các vị lãnh đạo nước bạn tới thăm, đi thăm viếng nước bạn, thay mặt Bảo Đại giải quyết những vấn đề rắc rối trong quan hệ bang giao, thăm viếng nhiều cơ quan, tổ chức xã hội, từ thiện tại một số nơi, như: Huế, Sài Gòn, Hà Nội, Đà Lạt… Bà cũng có nhiều hoạt động góp phần cho sự phát triển giáo dục nước nhà.

Một số việc làm khác của bà Nam Phương được người sau nhắc nhớ không phải ở cương vị Hoàng hậu mà khi trở về làm một “công dân” sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là việc bà tích cực hưởng ứng “tuần lễ vàng”: “Bà Nam Phương được hướng dẫn tới một chiếc bàn có trải tấm vải đỏ. Bà dừng lại bên chiếc bàn và từ từ cởi bỏ chiếc kiềng, đôi bông tai, đôi xuyến vàng và mười chiếc nhẫn vàng mà bà đã tháo từ mười ngón tay ra rồi tất cả những thứ quý kim trên bà Nam Phương đặt vào mặt bàn”. (Sđd)

Bà là người phụ nữ giỏi ngoại giao, khéo léo trong quan hệ ứng xử. Chẳng hạn, tình huống Hoàng hậu Nam Phương trả lời cho ông Lê Văn Hiến sau khi ông chuyển lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời bà cùng gia đình ra Hà Nội: “Hiện nay, ông Cố vấn một mình ở Hà Nội, với phong cách và lối sống của ông, Nhà nước đã chu toàn cho đầy đủ cũng phải tốn kém lắm rồi. Hơn nữa, Chính phủ mới thành lập, trăm ngàn việc phải tốn kém bao nhiêu. Cần tránh những gánh nặng khác. Tôi và 4 con trong nầy sống tạm đủ. Với cuộc sống bình thường, chúng tôi vẫn có khả năng tự lo liệu cũng được. Nếu mẹ con chúng tôi ra sống chung với ông Cố vấn, Nhà nước phải tốn kém gấp đôi, tôi nghĩ như vậy là không đúng… Vậy nhờ ông Bộ trưởng thưa lại với Hồ Chủ tịch hộ cho. Chúng tôi rất cám ơn”. (Sđd)

Ở một tình huống khác, bà đã viết bức thông điệp kêu gọi tinh thần nhân đạo, ngăn cản bàn tay thảm sát của thực dân Pháp với lời lẽ rất thắm thiết, chí tình:

“…Thay mặt cho mười ba triệu bạn gái của nước Việt Nam, một lần nữa tôi kêu gọi lòng bác ái nhân đạo của các người. Tôi mong mỏi các người không để cho chúng tôi phải thất vọng.

Bà Vĩnh Thụy

Cựu Hoàng hậu Nam Phương”.

Năm 1947, bà Nam Phương rời Việt Nam đến sống lặng lẽ cùng các con tại một làng cổ ở nước Pháp để cuối đời nằm lại nơi đất khách quê người.

Theo nhận định của nhiều người, Nam Phương Hoàng hậu có một số điểm nổi trội:

1. Nam Phương là bà Hoàng Tây học đầu tiên của triều Nguyễn, song bà vẫn là dâu hiền của một vương triều phương Đông, cùng với bộ Lễ, bà lo tròn việc lễ tiết, cúng kỵ, thăm hỏi trong triều nội, hoàn tất chu toàn mọi việc của gia đình với vai trò một người mẹ.

2. Nam Phương là bà Hoàng đầu tiên xuất cung tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động từ thiện như: thăm cô nhi viện, trường học, nữ công học hội, phát phần thưởng cho các học sinh giỏi… Nhờ đó, bà không những nổi tiếng ở Việt Nam mà nhiều tổ chức Quốc tế biết đến.

3. Nam Phương là đệ nhất phu nhân đầu tiên của nước ta cùng nhà vua đón tiếp khách quốc tế.

4. Nam Phương là phụ nữ Thiên Chúa giáo đầu tiên ở nước ta ở ngôi vị Hoàng hậu.

Hai nữ lưu của xứ dừa Bến Tre, quê hương Đồng Khởi

* Sương Nguyệt Anh tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Khuê (1864 – 1921), người làng An Bình Đông, nay là An Đức, Ba Tri, là con thứ tư của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Kế thừa tài năng và nhân cách của cha mình, Ngọc Khuê đã sớm nổi tiếng thành bậc tài sắc ít ai sánh kịp thời bấy giờ.

Sương Nguyệt Anh, nữ chủ bút đầu tiên của làng báo Việt Nam 

Lớn lên, bà lập gia đình, có con. Tưởng cuộc đời êm đẹp, nào ngờ chồng bà mất sớm nên bà một thân một mình vừa nuôi con vừa mở trường dạy chữ Nho cho con em người dân trong vùng. Ít lâu sau, bà lên Sài Gòn viết báo cho tờ “Nữ giới chung”. Năm 1918, bà thay ông Trần Văn Chim làm chủ bút tờ báo này. Trong lịch sử báo chí Việt Nam, bà là người phụ nữ đầu tiên làm chủ bút một tờ báo. Mọi người lúc ấy đều nể phục bà nên có thơ ca ngợi như sau:

“Đem chuông lên đánh Sài Gòn

Để cho nữ giới biết con ông Đồ”.

Trong thời gian làm báo ở Sài Gòn, có lần chứng kiến cảnh trái ngược của bọn quan lại tùy tùng xa hoa, lộng lẫy và cảnh lương dân lầm than, đói khổ, bà đã bày tỏ nỗi niềm sâu lắng với dân, với nước qua bài Hội Minh Lang:

“Ngàn thu may gặp hội Minh Lang,

Thiên hạ ngày nay chí mở mang.

Tấc đất ngọn rau tràn dưới mắt,

Đai cơm, bầu nước chật ven đàng.

Vui lòng Thánh Đế nơi xe ngựa,

Xót dạ thần dân chốn lửa than.

Nước mắt cô cùng trời đất biết.

Biển dâu một cuộc nghĩ mà thương”.

Trong đời viết văn, làm thơ, bà làm nhiều thơ chữ Nôm hơn thơ chữ Hán. Có những bài được nhắc đến nhiều, như: “Đoan ngọ nhật điếu Khuất Nguyên, Hội Minh Lang, Tặng sư cô, Thay lời vợ thầy thuốc, Tức sự, Vịnh bạch mai…”. Nhìn chung, thơ bà có lời lẽ dung dị, ý tứ thanh thoát dễ gần người đọc.

Lúc mất, bà được chôn cất ở làng Mỹ Nhơn. Về sau được cải táng về nằm bên cạnh cha mình ở làng An Đức, Ba Tri trong khu lăng mộ Nguyễn Đình Chiểu bây giờ. Để nhớ công ơn bà, nhiều tỉnh thành trên đất Nam Bộ có nhiều đường phố và trường mang tên Sương Nguyệt Anh.

* Có một người phụ nữ không chỉ nổi danh ở đất Nam bộ mà cả Việt Nam, thậm chí thế giới biết đến, chính là bà Nguyễn Thị Định (1920 – 1992). Bà là người Lương Hòa, huyện Giồng Trôm. Sống trong gia đình có truyền thống yêu nước, bà đã sớm giác ngộ lý tưởng và tham gia cách mạng.

Kỷ niệm chuyến ra thăm miền Bắc
của đồng chí Nguyễn Thị Định (1974) 

 

Cũng như bao chiến sĩ cách mạng khác, cuộc đời hoạt động cách mạng của bà cũng chịu nhiều hy sinh mất mát: chồng bị đi đày Côn Đảo và chết trong tù, bà bị giam giữ ở “căng” Bà Rá, con bà sau này cũng hy sinh.

Sau 1954, Bến Tre là một trọng điểm cuộc bình định, đánh phá ác liệt của chính quyền Sài Gòn mà bà là một cán bộ chủ chốt lãnh đạo tỉnh này vượt qua giai đoạn vô cùng đen tối và khắc nghiệt ấy. Kẻ địch đã từng treo giá cái đầu bà với một giá rất đắt vào những năm 60 – để thấy tầm quan trọng và tài năng chỉ huy của bà trong cuộc đối đầu sinh tử với địch. Trong hồi ký “Không còn con đường nào khác”, in trong cuốn “Nữ tướng Nguyễn Thị Định”, kể về một lần đi nhận súng cho ba khu Bảy, Tám, Chín của Nam Bộ, khi ấy, bà nói một câu thật vui và cảm động: “Tôi mang một cây mà bị lộ thì tôi cũng chết, các anh cho tôi một ngàn cây, tôi đi một chuyến cho đáng”.

Phong trào Đồng Khởi Bến Tre tạo được tiếng vang lớn trên chiến trường là nhờ tài chỉ đạo của bà với tư cách là thành viên của “Bộ tham mưu Đồng Khởi” và là người trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa điểm ở 3 xã: Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh.

Sau Đồng Khởi bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Năm 1970, bà giữ trọng trách là Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam, quân hàm Thiếu tướng.

Chiến tranh kết thúc, bà tham gia nhiều trọng trách trong Đảng, Quốc hội, Chính phủ. Chức vụ cao nhất mà bà được giao là Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bà là một vị tướng nhưng lại là người giàu lòng nhân ái và sự bao dung. Bà thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị, nên nhân dân cả nước đều tôn kính bà. Bà thuộc hàng những người “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Nhân dân tôn thờ bà như một vị thần và bà được thờ ở Mê Linh cùng với Hai Bà Trưng. Nhận xét của Thượng tướng Trần Văn Trà, người đã cùng công tác với bà trong Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, như sau: “Tôi nghĩ: ngày xưa, có hai nữ tướng Trưng Trắc và Trưng Nhị, thời chống Mỹ ta có nữ tướng Nguyễn Thị Định”. (sách “Nữ tướng Nguyễn Thị Định”)

Nhà nước ghi nhận công đóng góp lớn lao của bà Nguyễn Thị Định cho sự nghiệp Cách mạng, giải phóng dân tộc, độc lập cho Tổ quốc và tự do cho nhân dân nên đã cho xây dựng tại quê hương bà một đền thờ và một ngôi trường trung học phổ thông hết sức khang trang, bề thế.

***

Còn rất nhiều nữ lưu đất Nam bộ là những anh hùng, những nhà khoa học lớn, những nghệ sĩ tài danh… Mong rằng một ngày gần đây, chúng tôi sẽ có dịp giới thiệu.

TS HUỲNH CÔNG TÍN – Báo Cần Thơ

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s