Bí mật về máy bay B-2A của Mỹ


 Nếu máy bay chiến đấu tàng hình “Nighthawk”- F117A do công ty Lockheed Martin nghiên cứu, sản xuất là máy bay chiến đấu tàng hình đầu tiên, thì máy bay “ghost” – B-2A do công ty Northrop Grumman nghiên cứu, sản xuất lại là máy bay ném bom tàng hình đầu tiên và trong tương lai sẽ được sử dụng rộng rãi.

 

 

Biện pháp bảo vệ bí mật chương trình nghiên cứu, chế tạo máy bay B-2ANgay từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, cùng với việc đầu tư nghiên cứu, sản xuất máy bay chiến đấu tàng hình F-117, Bộ Quốc phòng và Quốc hội Mỹ đã chấp nhận ý tưởng nghiên cứu, sản xuất máy bay ném bom tàng hình kiểu mới mang tên B-2A.

Để bảo vệ bí mật về chương trình này, đánh lừa sự chú ý của tình báo các nước, đặc biệt là Cơ quan Tình báo Liên Xô, không quân Mỹ đã công khai gọi thầu cho chương trình nghiên cứu, sản xuất loại máy bay này là “Chương trình nghiên cứu máy bay đột kích và phòng thủ chiến lược tiên tiến – ASPA”, Công ty Northrop Grumman chuyên nghiên cứu, sản xuất máy bay ném bom cánh nghiêng đã được nhận hợp đồng.

 

 

 

Sau đó, chương trình này lại đổi sang một tên khác là “Chương trình nghiên cứu, sản xuất máy bay ném bom kỹ thuật tiên tiến – ATB”. Chương trình ATB thuộc dạng tuyệt mật và có độ mật tương đương với chương trình nghiên cứu, sản xuất bom nguyên tử “Mahantan” trước đây.

Chương trình ATB mang bí số khác là “lão CJ” và không quân Mỹ sử dụng từ “CJ” là để tưởng nhớ CJ. Kelly, Phó tư lệnh Không quân Mỹ người phụ trách việc thiết kế, sản xuất các máy bay tàng hình của không quân Mỹ thời bấy giờ.

Tháng 4/1982, tại khu vực căn cứ Air Force Plant 42, vùng Palmdale, ngoại ô Los Angeles, Công ty Northrop đã mua một nhà xưởng khép kín, cải tạo thành một công trường bí mật phục vụ việc nghiên cứu, sản xuất theo chương trình ATB.

 

Các loại bom trang bị trên B-2

Để ngăn chặn việc trinh sát và giám sát từ trên biển của Hải quân Liên Xô, toàn bộ khu nhà xưởng không thiết kế cửa sổ, bên ngoài đều lắp các thiết bị gây nhiễu điện tử. Các thiết bị chống nghe trộm và chống thu sóng cũng được tăng cường ở xung quanh nhà máy. Hệ thống camera bí mật kết hợp với lực lượng an ninh được tăng cường, đảm bảo giám sát 24/24 giờ tại các khu vực trong và ngoài.

Ngoài ra, để phòng ngừa điệp viên Liên Xô trà trộn vào nội bộ các cơ quan liên quan nhạy cảm để thu thập tin tức về chương trình này, Chính phủ và Bộ Quốc phòng Mỹ cũng hạn chế tối đa số người trong Quốc hội Mỹ biết về kế hoạch ATB. Tất cả các quân nhân liên quan khi đến thăm khu vực Air Force Plant 42 đều phải mặc thường phục, tránh sự chú ý của các điệp viên Liên Xô.

Do quy trình bảo mật rất chặt chẽ, nên chương trình ATB được khởi động từ năm 1981, nhưng mãi đến năm 1988 mới có được một bức ảnh liên quan đầu tiên và dư luận Mỹ không hề hay biết.

 

Ngày 20/4/1988, lần đầu tiên không quân Mỹ cho trưng bày một tấm bản đồ không chính xác về loại máy bay ném bom theo chương trình ATB và 7 tháng sau loại máy bay có tên hiệu AV–1 là loại máy bay đầu tiên của ATB đã bắt đầu xuất hiện.

Sau đó, các nước, đặc biệt là Liên Xô rất quan tâm đến việc nghiên cứu, sản xuất và sự kiện này gây ra dư luận chẳng kém gì việc Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố của Nhật trong Thế chiến II. Không lâu sau, Mỹ chính thức công bố tên của loại máy bay này đó là máy bay ném bom tàng hình B-2A.

Ưu việt về tính năng, tác dụng của B-2A

Với sự kết hợp giữa công nghệ tàng hình và hệ thống thiết kế tiên tiến, B-2A là loại máy bay ném bom chiến lược tàng hình hiện đại nhất thế giới. Với hình dáng cánh máy bay rất đặc thù và kết cấu của các giá treo vũ khí, loại máy bay ném bom tàng hình này có thể tấn công cả bằng vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường.

Khi tác chiến với vũ khí thông thường, B-2A có thể tấn công các mục tiêu trên khắp thế giới và trong mỗi lần tham chiến, nó có thể tấn công số mục tiêu nhiều gấp 8 lần so với máy bay chiến đấu F-117. Khi bay dưới sự đeo bám của các hệ thống do radar phòng không hiện đại, nó có diện tích phản xạ chỉ như con chim nhỏ.

Kỹ thuật tàng hình thế hệ thứ 2 của nó được áp dụng nhằm giúp máy bay có thể thâm nhập qua các hàng rào phòng không dày đặc mà máy bay chiến đấu trước đây không thể thực hiện. Khả năng bị nhận dạng thấp, hay các tính năng “tàng hình” được cho phép nó thâm nhập qua những hàng rào bảo vệ tinh vi nhất của kẻ thù và tấn công các mục tiêu được bảo vệ kỹ càng nhất.
Sự pha trộn giữa kỹ thuật tàng hình và hình dáng khí động học cũng như khả năng chất tải lớn mang lại cho B-2A những ưu thế mạnh so với các loại máy bay ném bom thông thường trước đây. Tầm hoạt động của nó khoảng 11 nghìn km, mà không cần tái nạp nhiên liệu, tính năng tàng hình khiến cho B-2A có khả năng hoạt động tự do hơn ở những độ cao lớn, nhờ thế tăng tầm hoạt động và có vùng quan sát tốt hơn cho các cảm biến gắn trên nó.
Khả năng tàng hình của B-2A là nhờ sự phối hợp giữa việc giảm thiểu tín hiệu âm thanh, hồng ngoại, điện từ, quang học và radar phát ra, khiến đối phương rất khó phát hiện, theo dõi và tiêu diệt. Nhiều đặc tính tàng hình vẫn được xếp vào hàng tối mật; tuy nhiên các vật liệu composite chế tạo B-2A, đặc biệt và các lớp phủ và thiết kế kiểu cánh tay cũng góp phần tăng khả năng tàng hình của nó.
B-2A có tổ lái 2 người; một phi công ngồi bên trái và một chỉ huy ở bên phải, so với đội bay 4 người của B-1B và 5 người của B-52. Ngoài ra, máy bay này còn có khả năng liên lạc, phát hiện mục tiêu, bay và thực hiện các chức năng khác mà không bị phát hiện.
TTH – (Theo ANTG)  – vndefence

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s