Phân loại pháo


Có thể phân loại pháo theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau nhưng thông dụng nhất là phân loại theo các tiêu chuẩn sau:

- Cỡ nòng: Pháo 105 mm, 122 mm, 130 mm…
- Tầm bắn: Pháo tầm xa, tầm gần…
- Phương cách di chuyển: Pháo gắn trên máy bay, pháo gắn trên xe tăng, pháo cố định, pháo kéo bằng xe, pháo tự hành…
Về mặt đặc điểm tác chiến người ta phân loại pháo theo cách bắn pháo (Theo hình thức quỹ đạo bắn của đầu đạn), gồm các loại sau: Sơn pháo, Lựu pháo, Súng cối và pháo phản lực.
Mục đích sử dụng: Pháo chống tăng, pháo phòng không,…

Một số loại pháo

Pháo không giật

Được Davis, người Mỹ, phát minh vào đầu thế kỷ 20, được sử dụng ngắn ngủi trên một vài máy bay của Anh trong thế chiến I, loại pháo này có hai nòng ngược nhau và một buồng ở giữa để nạp đẩy. Vào cuối những năm 30, các hãng Krupp và Rheinmetal của Đức đã chế tạo nhiều mẫu pháo không giật với cỡ 75 mm, mà một mẫu đã được thử nghiệm cùng với lính nhảy dù Đức ở Crète.
Pháo phản lực
Pháo phản lực là một trong bốn loại hoả pháo cơ bản của pháo binh (Sơn pháo, Lựu pháo, Súng cối, Pháo phản lực). Pháo phản lực thực chất là loại hoả tiễn (rocket) không điều khiển, loại nhỏ, phóng theo loạt. Các đầu đạn hoả tiễn được lắp trên các thanh dẫn hướng hoặc các ống phóng và điểm hoả bằng công tắc điện.

Photobucket - Video and Image Hosting

Pháo phản lực có thể bắn thẳng (như sơn pháo) khi lắp trên trực thăng hoặc máy bay yểm trợ mặt đất, hoặc cũng có thể bắn cầu vồng (như lựu pháo) khi lắp trên xe hoặc đặt dàn trên mặt đất khi đó tầm bắn chỉ đạt khoảng 4-6 km.

Loại hình pháo phản lực này có 2 ưu điểm rất lớn đó là:

1. tốc độ bắn rất nhanh, trong một phút có thể bắn ra hàng trăm phát đạn,
2. kích thước rất nhỏ gọn có thể lắp gọn gàng trên xe ô tô hoặc trên máy bay và trực thăng vũ trang.

Mặt khác, pháo binh phản lực có một số hạn chế: vì là loại hoả tiễn nên sơ tốc đầu đạn bắn ra không cao, phần lớn khối lượng quả đạn là thuốc phóng đầu đạn do đó khối lượng thuốc nổ không lớn. Vì hai lý do trên nên loại pháo phản lực chỉ hiệu quả với việc chống bộ binh trên mặt đất, còn hiệu quả kém đối với các công sự kiên cố. Độ tản mát của đạn khá lớn khi bắn xa, phụ thuộc nhiều vào vận tốc và chiều của gió.

Photobucket - Video and Image Hosting

Trong chiến tranh Việt Nam phía Mỹ sử dụng pháo phản lực chủ yếu lắp trên trực thăng vũ trang. Còn phía quân đội Miền Bắc hay dùng loại dàn phóng H12 gồm 12 ống phóng.

Photobucket - Video and Image Hosting

Sơn pháo

Sơn pháo là loại hoả pháo của pháo binh quân đội các quốc gia. Một trong bốn loại hoả pháo cơ bản (Sơn pháo, Lựu pháo, Súng cối, Pháo phản lực). Loại pháo này khi bắn quỹ đạo, đường đạn từ vị trí của pháo đến mục tiêu, là một đường thẳng, hoặc gần như thẳng, nên đôi khi sơn pháo còn được gọi là pháo bắn thẳng. Đặc điểm tác xạ của sơn pháo là khi bắn mắt của xạ thủ phải nhìn thấy mục tiêu cần bắn và đường thẳng nối mắt của xạ thủ với mục tiêu là đường trùng với trục của nòng pháo hoặc song song với nòng pháo.

Photobucket - Video and Image Hosting

Sơn pháo, vì đặc điểm tác xạ như trên, là loại pháo đánh gần (pháo tầm gần): xạ thủ nhắm bắn trực tiếp vào mục tiêu, xạ thủ của sơn pháo tác chiến trong điều kiện mặt đối mặt với đối phương. Chính vì đặc điểm này nên sơn pháo cần có một số tính năng đặc biệt: tính chính xác và tính bắn nhanh. Tính chính xác đòi hỏi phải tiêu diệt mục tiêu ngay từ quả đạn đầu không cho phép đối phương bắn trả. Tính bắn nhanh đòi hỏi phải bắn được phát đạn kế tiếp trong một thời gian ngắn nhất. Các loại pháo của xe tăng và pháo chống tăng là điển hình nhất của sơn pháo.

Photobucket - Video and Image Hosting

Trong thế chiến thứ 2 xe tăng Tiger của Đức Quốc Xã được trang bị sơn pháo 88 mm có uy lực lớn bắn rất xa, dùng đạn xuyên thép để chống tăng và đạn nổ thường để chống lô cốt, bộ binh. Xe tăng Sherman của quân đội Đồng Minh Anh- Mỹ thì trang bị loại sơn pháo 75 mm có tính năng bắn chính xác và bắn nhanh rất tốt rất hiệu quả chống bộ binh nhưng kém uy lực khi đấu với xe tăng Đức (pháo 88 mm bắn xa hơn pháo 75 mm). Còn xe tăng T34-85 của Liên Xô trang bị loại sơn pháo 85 mm rất uy lực bắn cả đạn chống tăng và đạn nổ thường.

Về mặt cỡ nòng, sơn pháo nếu so sánh với một loại pháo cơ bản khác là lựu pháo thì có cỡ nòng nhỏ hơn. Thông thường cỡ nòng của sơn pháo từ 40mm đến loại to nhất là khoảng 100 mm trong khi đó hầu hết lựu pháo có cỡ nòng trên 100 mm.

Trong trang bị của quân đội những loại pháo sau được liệt vào hạng mục sơn pháo: pháo xe tăng, pháo chống tăng, pháo máy bay, pháo cao xạ, DKZ…

Súng cối

Súng cối, hay pháo cối, là một loại trong bốn loại hoả pháo cơ bản của pháo binh (sơn pháo, lựu pháo, súng cối, pháo phản lực )

Đặc điểm của súng cối là pháo nòng nhẵn không có khương tuyến, quỹ đạo bắn là một hình cầu vồng có góc bắn (góc giữa mặt phẳng ngang và trục nòng pháo) rất lớn (trên 45 độ), quỹ đạo hình cầu vồng dựng đứng hay người ta thường nói là bắn theo kiểu đạn treo.

Photobucket - Video and Image Hosting

Đạn súng cối là loại đạn có sơ tốc lực đẩy nhỏ không có cáp tút (tiếng Pháp: cartouche). Chuyển động phóng là nhờ liều thuốc cháy trong phần trên các cánh dẫn hướng. Vì là loại đạn sơ tốc nhỏ nên súng cối chỉ để tác chiến đánh gần và rất hiệu quả trong đánh gần, có thể tiêu diệt các mục tiêu bị khuất lấp bởi vật cản đồng thới nó có thể bắn ra từ vị trí được che chắn tốt. Và vì có khối lượng nhỏ nên nó cũng là loại pháo trợ chiến cho bộ binh rất thông dụng và hiệu quả.

Bộ binh thường mang súng cối đi theo đội hình để làm hỏa lực đi kèm. Súng cối khác với các loại súng pháo khác là thường nạp đạn từ phía trước nòng điều này cho phép thao tác bắn rất đơn giản, bắn rất nhanh

Cấu tạo

Cấu tạo của súng cối rất đơn giản gồm ba phần chính:

Photobucket - Video and Image Hosting

Nòng súng: thông thường từ 60 mm đến 120 mm, nòng nhẵn (không có khương tuyến) và nòng thường ngắn cho phép xạ thủ nạp đạn từ miệng nòng, vì đạn không có cáp tút nên không có hệ thống quy lát ở phía cuối nòng. Đạn tự bị kích cháy bay đi xạ thủ không cần động tác phát hoả.

Bàn đế: Là bộ phận chịu lực giật lại của súng khi bắn. Đây là một mảng kim loại rất nặng thường hình tròn. Đối với các súng cối loại nhỏ trong chiến đấu khi bắn ứng dụng xạ thủ có thể dùng tay giữ nòng chống xuống đất bắn không cần bàn đế.

Giá chân: Thường là giá ba chân trên đó có các thiết bị điều chỉnh góc bắn và kính quang học để ngắm bắn. Khi chiến đấu bắn ứng dụng có thể không cần giá chân súng với súng loại nhỏ.

Người phát minh ra súng cối hiện đại là Stokes, người Anh, loại súng cối cỡ 81 mm đã được đưa vào sử dụng trong quân đội Anh từ năm 1917. E.Brandt, người Pháp, đã kết hợp với Stockes và cải tiến súng của ông.

Trong những năm 30, Brandt đã chế tạo ra một loại súng cối từ cỡ 45 mm tới cỡ 155 mm. Được hoàn thiện liên tục, súng cối Stokes-Brandt là xuất phát điểm của mọi súng cối hiện đại.

Lựu pháo

Lựu pháo là một trong bốn loại hỏa pháo cơ bản của pháo binh (pháo nòng dài, súng cối, pháo phản lực và lựu pháo). Đặc điểm của nó là khi bắn xạ thủ không hề nhìn thấy mục tiêu mình bắn vì ở khoảng cách rất xa và có thế bị khuất lấp bởi vật cản. Quỹ đạo của đầu đạn từ vị trí pháo đến mục tiêu là một quỹ đạo hình vòng cung (cầu vồng). Góc bắn của nòng pháo tạo với mặt phẳng mặt đất là dưới 45 độ (trên 45 độ thì là kiểu bắn của súng cối). Điều này cho phép bắn đến mục tiêu ở rất xa (đến vài chục km) và mục tiêu sau vật cản. Do đặc điểm này có thể nói lựu pháo là loại pháo bắn xa và là loại pháo cơ bản có số lượng lớn nhất trong binh chủng pháo binh. Vì không thể thấy mục tiêu nên lựu pháo bắn theo toạ độ bắn pháo được chỉ thị trên bản đồ hoặc theo sự hiệu chỉnh của trinh sát pháo binh. Dựa trên đặc điểm bắn của lựu pháo nên loại pháo này không thể tiêu diệt mục tiêu bằng một hoặc vài quả đạn mà uy lực của nó thể hiện ở mật độ đạn pháo rơi xuống khu vực mục tiêu. Do vậy các trận địa pháo thường có nhiều khẩu và bắn đồng loạt theo hiệu lệnh. Trong một trận đánh pháo binh nếu bên nào có số lượng khẩu pháo nhiều hơn thì bên đó dễ dàng áp đảo đối phương bằng mật độ bắn pháo cao hơn.

Trong Chiến tranh Việt Nam các bên sử dụng loại lựu pháo cơ bản rất nổi tiếng là pháo M-101/-102 105 mm của Mỹ. Phía Quân đội Nhân dân Việt Nam còn sử dụng loại lựu pháo M-30 122 mm và 130 mm rất hiệu quả do Liên Xô và Trung Quốc chế tạo.

Photobucket - Video and Image Hosting

Photobucket - Video and Image Hosting

(Theo wikipedia – và  vndefence.info )

About these ads
Categories: Quân sự | Để lại bình luận

Post navigation

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s